Home >> Kinh Tế >> Phân Tích Lợi Hại

 

CBA / Phân Tích

CHƯƠNG 2: Vị Thế Trong Phân Tích Chi-Phí -- Lợi Ích

Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe

Phiên dịch: Lê Thủy


Bước đầu tiên trong phân tích chi phí lợi ích là xác định xem ai là đối tượng có vị thế trong phân tích. Có nghĩa là ai là người có quyền hưởng lợi cũng như ai là người có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm chi trả cho các chi phí. Vấn đề vị thế quyết định góc nhìn của phân tích. Nó có thể có tác động lớn đến các tính toán lợi ích chi phí.

Trong lý thuyết kinh tế, ai cũng đều có vị thế: nên đưa phúc lợi xã hôị của tất cả những ai là đối tượng điều chỉnh của một chính sách vào phân tích bất kể họ sống ở đâu, họ giàu hay nghèo, đã được sinh ra hay sẽ sinh ra ở đâu. Sở dĩ như vậy là bởi lý thuyết kinh tế không được gắn kết tốt với những tính toán thể chế, nhất là các tính toán luật pháp. Các vấn đề về vị thế thường xuất hiện trước hết là trong quá trình đo lường các ý kiến, thứ hai là trong các ước tính thực tế.

Các vấn đề vị thế thực tế nhất thiết phải là các vấn đề chính trị. Chúng cũng là những vấn đề liên quan đến tư pháp. Phần lớn các phân tích chi phí lợi ích thường được tiến hành trên vị thế quốc gia. Kết quả là chúng không tính đến vị thế của người nước ngoài. Song nhìn từ góc độ mang tính địa phương nhiều hơn cũng xuất hiện một vấn đề tương tự. Hãy tưởng tượng một tình huống thực tế trong đó một cơ quan hay chính quyền thành phố triển khai một dự án. Nếu một CBA được tiến hành trên vị thế của cơ quan đó, có thể là chỉ có các thành viên của cơ quan đó hoặc lợi ích của cơ quan đó có vị thế trong phân tích. Lúc đó, chỉ có chi phí và doanh thu của cơ quan đó là cần phải tính đến. Nếu thay vào đó, CBA được tiến hành ở góc độ toàn thành phố thì các cư dân của thành phố đó cũng như chính quyền thành phố đó có vị thế. Một cách lý tưởng, nên có một vị thế mang tính toàn cầu hay phổ thông. Có như vậy, lợi ích của người dân trong thành phố đó, các thành phố lân cận hay ở một nơi nào đó mới được tính đến. Song điều này thường là không thực tế hay không nhất quán với lợi ích của người tiến hành phân tích.

Xuất phát điểm tiến hành phân tích CBA (hay ai có vị thế) nên được nêu một cách rõ ràng và áp dụng một cách nhất quán trong suốt quá trình nghiên cứu. Giả dụ như hãy tưởng tượng rằng một thị trấn đang xem xét việc xây dựng một bệnh viện. Quyết định xây bệnh viện mới này sẽ dẫn đến tình trạng một bệnh viện khác ở vùng lân cận phải ngừng hoạt động. Nếu các cư dân của vùng lân cận đó được coi là có vị thế thì nên đưa lợi ích mà họ có được từ bệnh viện mới vào chi phí của việc mất đi một bệnh viện cũ hơn và gần hơn. Một nhà phân tích bất hảo có thể sẽ tìm cách chỉ đưa vào một trong các chi phí chứ không phải là tất cả.

Chương này sẽ đề cập đến vấn đề vị thế trước hết là theo nghĩa truyền thống. Tức là xem xét tác động của việc mở rộng hay thu hẹp diện đối tượng có lợi ích trong việc thực hiện dự án. Tiếp đó, chúng ta sẽ xét đến các vấn đề phân phối trong CBA như một dạng câu hỏi đặc biệt về vị thế. Cuối cùng, chúng ta sẽ mở rộng diện nghiên cứu để tính đến tác động của dự án đối với con cháu chúng ta. Chúng ta cũng xem xét vấn đề ban vị thế cho những đứa trẻ tuy chưa được sinh ra song đã được hưởng lợi ích mà dự án đem lại cũng như gánh chịu hậu quả nó gây ra.

2.1 Vị thế và Chuyển nhượng Vị thế

Một trong những ẩn ý quan trọng của vị thế là xử lý như thế nào với sự chuyển nhượng giữa các cá nhân và tổ chức. Không nên tính chuyển nhượng tiền mặt, hàng hoá hay dịch vụ từ người có vị thế này sang người có vị thế khác là chi phí hay lợi ích trong phân tích. Chuyển nhượng giữa người không có vị thế với người có vị thế phải được tính là lợi ích trong khi chuyển nhượng từ người có vị thế sang người không có vị thế sẽ được tính là chi phí.


Ví dụ: Vị thế và Xử lý Nước trên dòng Đa-nuýp

Sông Đa-Nuýp bắt nguồn từ Đức và chảy qua các nước Áo, Slôvakia, Hungari, Croatia, Séc-bi, Bungari và Rumani trước khi đổ ra biển Đen. Nếu chính phủ Áo tính đến việc xây một nhà máy xử lý nước nhằm cải thiện chất lượng nước của sông Đa-Nuýp, họ có vẻ như chỉ cấp vị thế sử dụng cho người Áo và bỏ qua lợi ích mà người dân các nước khác sinh sống dọc theo con sông được hưởng từ dự án. Điều này khiến cho ích lợi thu được từ việc cải thiện chất lượng nước giảm đi. Nó có thể đặt dấu chấm hết cho một dự án mà đáng lẽ ra đáng để triển khai nếu vị thế sử dụng mang tính toàn cầu.

Hãy tưởng tượng rằng chính phủ Hungari muốn nhà máy được xây dựng và đóng góp 100 triệu đôla cho chính phủ Áo để hỗ trợ chi phí xây dựng. Nhìn từ góc độ toàn cầu, khoản chi trả này là một sự chuyển nhượng. Nó không phải là chi phí hay lợi ích của dự án. Tuy nhiên, với một nghiên cứu CBA mà trong đó chỉ có chính phủ Áo là có vị thế sử dụng thì khoản tiền này sẽ được tính như là lợi ích mà dự án đem lại. Nếu nghiên cứu CBA được tiến hành dưới góc nhìn của người Hung thì khoản tiền đó được tính như là chi phí của dự án.


Vấn đề vị thế sử dụng thường được áp dụng không đúng trong phân tích các dự án phát triển kinh tế nhằm trợ giúp những vùng nghèo đói. Tiền cho các dự án này có thể được lấy từ các khoản thu thuế ở nơi khác và có lẽ được dùng để thuê nhân công của vùng đó. Nếu tiền thuế được trả cho các cư dân địa phương dưới dạng tiền lương, tiền lương đó có thể được tính như lợi ích mà dự án đem lại. Đây là một cách tính toán sai lầm.Chừng nào những người đóng thuế còn có vị thế sử dụng thì chừng đó các khoản chi trả lương này còn là những khoản chuyển nhượng chứ không phải là chi phí hay lợi ích của dự án.[1] Những chuyển nhượng này có thể được mong đợi vì những lý do khác. Tuy nhiên, cần phải nêu rõ những lý do này trong phân tích CBA.


Ví dụ: Xác định giá trị lao động cho việc khôi phục cây cối bị chặt phá ở hai bên đường

Một dự án được đề xuất xây dựng với mục tiêu phủ xanh lại các con đường bị đốn chặt cây hai bên nhằm ngăn chặn tình trạng xói mòn đất và cải thiện chất lượng nước suối ở khu vực xung quanh. Do việc đốn gỗ gần đây trong vùng có giảm nên vùng dự án có tỷ lệ thất nghiệp cao. Một phụ nữ đại diện cho người dân trong vùng cho biết tiền công trả cho người dân địa phương làm việc cho dự án là lợi ích mà dự án đem lại và nên được tính là lợi ích. Liệu ý kiến của chị có đúng không?

Câu trả lời phụ thuộc vào việc phân tích CBA của dự án được tiến hành dưới góc độ nào và nguồn vốn cho dự án là nguồn nào. Nếu phân tích được tiến hành dưới góc độ người dân địa phương, nguồn vốn có thể là nguồn của chính phủ hay nguồn thu thuế của chính quyền liên bang thì các mức lương chi trả là lợi ích. Nếu phân tích được tiến hành dưới góc độ của chính phủ và nguồn vốn được lấy từ doanh thu thuế thì các khoản lương chi trả đơn giản là một khoản chuyển nhượng. Chúng không được tính là lợi ích. Nếu phân tích được tiến hành dưới góc độ chính phủ và giả định rằng chính quyền liên bang sẽ cấp vốn cho dự án thì các mức lương chi trả là một khoản chuyển nhượng từ những người nộp thuế (những người không có vị thế sử dụng) sang các công dân của bang và nên được tính là một khoản lợi thu được từ dự án.

Một vấn đề tách biệt ở đây là giá trị của lao động được dùng trong công việc. Nếu không có dự án, những người làm thuê cho dự án sẽ bị thất nghiệp và người ta có xu hướng sẽ gán một giá trị bằng không cho lao động đó. Điều này bỏ qua giá trị của dịch vụ nội trợ họ đã có thể cung cấp cộng với giá trị của thời gian nghỉ ngơi họ có được dù cho giá trị nghỉ ngơi có thể bằng không ở những vùng có tỷ lệ thất nghiệp cao.


Ví dụ: Các lựa chọn phát triển giao thông công cộng

Một thành phố đang xem xét hai khả năng cho việc mở rộng hệ thống vận tải công cộng. Khả năng thứ nhất là mở rộng dịch vụ xe buýt, khả năng thứ hai là lắp đặt một hệ thống đường ray nhẹ. Vì nhiều lý do khác nhau, hai khả năng này mang tính loại trừ lẫn nhau; chỉ có thể thực hiện được một trong hai dự án. Các phân tích CBA đáng tin cậy đã được tiến hành cho cả hai dự án. Qua đó người ta nhận thấy rằng việc mở rộng hệ thống dịch vụ xe buýt sẽ tạo ra một lợi ích ròng là 40 tỷ đôla trong khi việc lắp đặt và vận hành một đường ray nhẹ sẽ tạo ra một khoản lời ròng là 35 tỷ đôla. Vì chính phủ liên bang cũng đang triển khai một chương trình đường sắt hạng nhẹ nên thành phố có thể xin chính phủ tài trợ cho 10 tỷ đôla cho việc xây dựng đường ray. Nếu thành phố mở rộng dịch vụ xe buýt, thành phố sẽ không có được khoản tài trợ này. Vậy nên chọn dự án nào để triển khai?

Vị thế sử dụng đóng vai trò quan trọng ở đây. Nếu phân tích từ góc độ một dự án toàn quốc, thì khoản tài trợ $10 đôla của chính phủ sẽ chỉ đơn giản là một khoản chuyển nhượng. Nó không có tác động gì lớn đến lợi nhuận ròng của dự án. Tuy nhiên, nếu phân tích từ góc độ một dự án của thành phố thì khoản tiền này lại là lợi ích của việc lựa chọn dự án xây đường sắt hạng nhẹ. Lúc đó, tổng lợi ích ròng của dự án tăng lên $45tỷ đôla. Điều này khiến cho dự án xây đường sắt hạng nhẹ được mong đợi hơn so với dự án tăng cường dịch vụ xe buýt dù cho xét từ góc độ quốc gia thì dự án này có ưu thế hơn.

2.2 Gộp Lợi ích và Chi phí

Xuất phát điểm quyết định sẽ đưa chi phí nào vào trong phân tích. Ở mức độ đơn giản nhất, phân tích sẽ bao gồm những thiệt hại mà những người có vị thế sử dụng trong dự án phải gánh chịu hay những lợi ích mà họ được hưởng. Tuy nhiên, việc phân biệt đâu là lợi ích và chi phí trở nên khó khăn hơn tuỳ thuộc vào xuất phát điểm chính xác của nghiên cứu.

Hãy hình dung rằng một phòng quản lý công viên và giải trí thành phố đang cân nhắc xem có nên xây dựng và vận hành một sân gôn hay không. Người ta có thể biết tương đối rõ ràng các mức chi phí song không dễ gì quyết định được đâu là lợi ích được đưa vào trong chi phí. Một phân tích được tiến hành với xuất phát điểm chung chung sẽ cố gắng tính toán những giá trị mà người chơi gôn sẽ được nhận nếu có thêm một sân gôn nữa trong khu vực. Lợi ích này có lẽ là giảm bớt tình trạng quá tải ở các sân gôn, nhiều lựa chọn hơn và độ thuận tiện cao hơn cho người chơi. Một phân tích từ góc độ thành phố sẽ cố gắng tính lợi ích mà dự án sân gôn mang lại bằng cách cộng độ thụ hưởng gia tăng mà những người chơi gôn trong thành phố có được với doanh thu mà những người chơi gôn đến từ nơi khác thu được. Một phân tích bó hẹp trong phạm vi một phòng chuyên về giải trí sẽ chỉ tính đến doanh thu mà sân gôn sẽ tạo ra mà bỏ qua giá trị của bất kỳ lợi ích nào phí thuê sân mà người chơi gôn phải trả. Mỗi một cách tiếp cận sẽ mang lại một kết quả khác nhau. Nhưng cách tiếp cận nào cũng có thể đúng với điều kiện vị thế sử dụng tính đến phải đúng.


Ví dụ: Vị thế sử dụng và lợi ích của việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe đạp

Trong một phân tích về chi phí lợi ích của việc đội mũ bảo hiểm, Ginsberg và Silverberg (1994) ước tính giá trị thiệt hại về người (bị thương và tử vong) do việc không đội mũ bảo hiểm gây ra. Tuy nhiên, họ chỉ đưa phí chữa trị (cho thương tật) và sản lượng kinh tế bị mất vào trong phân tích của mình. Không có cái giá nào được gắn cho việc một người phải từ giã cuộc đời của mình. Kết quả là giá trị của việc đội mũ bảo hiểm với những người còn sống thường là thấp.

Xuất phát điểm của phân tích chính là lời lý giải cho việc gán một giá trị thấp cho một mạng người được cứu sống. Phân tích được tiến hành dưới góc độ xã hội. Điều này có nghĩa là người ta không tính đến bất kỳ giá trị nào mà một cá nhân có thể gán cho tình trạng một người không bị thương và còn sống sót. Chỉ có các dịch vụ kinh tế được người bị thương cung cấp cho những người khác là được tính đến (tính dựa trên GDP trên đầu người) là được tính đến cũng như chi phí mà xã hội phải gánh khi họ bị thương.

Nếu mở rộng xuất phát điểm sang giá trị mà một người gán cho cuộc đời và sức khoẻ của mình, lợi ích mà nghiên cứu mang lại sẽ lớn hơn. Tuy nhiên, dường như các nhà nghiên cứu đang khuyến nghị rằng việc bắt buộc sử dụng mũ bảo hiểm được biện minh từ góc độ xã hội chứ không phải là từ góc nhìn của chế độ gia trưởng/chỉ huy.


Liệu phân tích chi phí lợi ích có tính giá trị của sự ghen tị hay ác ý ở mức ngang với những giá trị khác không? Liệu độ thoả dụng của một kẻ phạm tội cưỡng hiếp hay dâm tà có được tính đến cùng với sự chịu đựng của nạn nhân hay không? Hay liệu có nên tính giá trị của hàng hoá đánh cắp được đối với một tên trộm khi mà hàng hoá đó sẽ được trả lại cho người bị mất? Nhà phân tích không thể và không nên tự tiện đưa các giá trị của mình vào trong phân tích được. Tuy nhiên, một phân tích quy chuẩn dường như không thể tính đến độ thoả dụng của những hành vi bất hảo vì về mặt đạo đức mà nói việc đó là không thể biện hộ được. Và thật ra chi phí lợi ích bị chỉ trích là không phân biệt được độ thoả dụng tốt với độ thoả dụng xấu. Vì thế nó thất bại trong việc lột tả sắc thái đạo đức của đối tượng được phân tích. Liệu có thể dung hoà hai quan điểm này không?

Xuất phát điểm cho chúng ta một phương tiện. Nếu chúng ta tính tất cả các giá trị thì chúng không chỉ tính đến độ thoả dụng xấu mà còn tính cả độ phản thoả dụng. Đó không chỉ là những gì mà nạn nhân của lòng hận thù, sự hiểm ác, ghen tị hay tà dâm phải gánh chịu mà còn là giá trị của sự ghê tởm mà xã hội nói chung dành cho hành vi xấu xa đó. Việc phân biệt giữa hành động tốt và xấu không chỉ do người phân tích quyết định mà còn tuỳ thuộc vào phép tắc, thông tục của xã hội. Có thể lấy những phép tắc này đại diện cho kết quả của một cuộc điều tra mà trong đó độ thoả dụng xấu cũng như độ thoả dụng tốt có tầm quan trọng như nhau. Một khi hành vi giết người hay trộm cắp đã là phi pháp thì độ thoả dụng có được từ việc trộm cắp hay giết người nhìn chung mang giá trị âm. Có thể lấy giá trị này để phủ định giá trị đồ mà tên trộm ăn cắp được cũng như độ thoả dụng mà kẻ giết người có được từ việc giết người.


Ví dụ: Trộm cướp

Một công ty cung cấp độ thoả dụng yêu cầu khách hàng của mình phải ứng tiền trước một tháng cho các dịch vụ được cung cấp. Trong nhiều trường hợp khi khách hàng thôi không sử dụng dịch vụ của công ty nữa thì công ty sẽ nợ khách hàng một khoản. Công ty sẽ trả lại khoản nợ này nếu khách hàng yêu cầu. Song nếu khách hàng không yêu cầu, công ty sẽ không trả lại. Theo cách này, công ty đã tích luỹ được vài triệu đô la tiền lời. Hành động này của công ty bị chính phủ phát hiện và đưa ra toà xét xử. Công ty đồng ý chấm dứt hành vi đó. Vấn đề hiện tại là liệu có yêu cầu công ty hoàn trả phí khống mà nó đã thu từ khách hàng hay không. Một nhà kinh tế được công ty thuê lập luận rằng việc trả lại tiền không có ý nghĩa gì trong phân tích chi phí lợi ích. Công ty sẽ phải mất 03 triệu đô la cho việc hoàn trả lại này cộng thêm chi phí của việc hoàn trả. Chi phí chiếm khoảng 10% tổng lợi nhuận hay 300,000 đô la. Vậy là phân tích chi phí lợi ích cho thấy công ty không nên hoàn trả lại số tiền này vì nó sẽ mất 300,000 đô la. Khoản tiền 3 triệu đô chỉ là một khoản chuyển nhượng. Một nhà kinh tế làm việc cho chính phủ sau khi đọc xong cuốn sách lại lập luận rằng một khi đã đi ăn cắp thì công ty đó không có vị thế gì để tính đến lợi ích của mình. Kết quả của phân tích chi phí lợi ích lúc đó chỉ là khoản lời 3 triệu đô mà khách hàng thu được trừ đi chi phí nguồn của việc chuyển nhượng, tức là 300,000 đô. Lúc đó, lợi ích ròng của phân tích CBA là 2.7 triệu đô.


2.3 Các Phân tích Tác động Kinh tế

Một dạng khác của phân tích CBA là phân tích tác động kinh tế. Phân tích này cố gắng dự tính tất cả các tác động kinh tế của một dự án chính hay điều kiện thuận lợi mà dự án tạo ra cho một khu vực hoặc một vùng. Tác động kinh tế thường được định nghĩa là tổng doanh thu của các tiện ích, chi phí để có được các tiện ích, doanh thu thuế có được và doanh thu bổ sung mà những doanh nghiệp ăn theo được hưởng. Người ta thường dùng những nghiên cứu này để biện minh rằng cần phải triển khai các dự án vì sự phát triển kinh tế vùng ngay cả khi dự án không đem lại lợi ích ròng dương theo bất kỳ một cách hiểu truyền thống nào.

Ví dụ như một địa điểm biểu diễn hoà nhạc mới ở một khu vực trong thành phố sẽ có khả năng thu hút một lượng lớn người đến xem hàng chục lần mỗi năm. Việc này tạo ra việc làm và doanh thu cho cả địa điểm đó cũng như các hàng quán xung quanh. Những khoản doanh thu này bị đánh thuế và chính quyền địa phương có thêm thu nhập. Tác động kinh tế của việc xây nhà hát có thể bao gồm doanh thu bừ bán vé, lương trả cho nhân viên nhà hát, khoản doanh thu gia tăng của các quán bar, nhà hàng cùng những loại hình kinh doanh khác trong vùng. Ngoài ra, còn có khoản thuế thu được từ những giao dịch này. Tất cả những khoản tiền này có thể được đưa vào trong phân tích như là lợi ích mà dự án xây dựng nhà hát đem lại.

Loại phân tích này bỏ qua những chi phí của việc tổ chức những buổi hoà nhạc, chi phí cơ hội của người lao động cho việc đi làm tại nhà hát. Lợi ích thực mà chủ doanh nghiệp địa phương nhận được sẽ không phải là khoản doanh thu gia tăng mà là khoản lợi nhuận gia tăng. Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng giữa phân tích tác động và CBA là xuất phát điểm. Phân tích tác động kinh tế giới hạn vị thế sử dụng với những doanh nghiệp nằm trong một khu vực nhất định tương đối hẹp. Một phân tích CBA chính xác nên thừa nhận rằng sự có mặt của nhà hát đã thay thế cho những chi tiêu cho các hoạt động giải trí khác. Thêm vào đó, chuyện xuất hiện nhà hát khiến cho nhiều khách hàng đến với hàng quán trong vùng đó hơn có thể đồng nghĩa với việc hàng quán ở một nơi khác nào đó có ít khách hàng hơn. Nói một cách khác, các doanh nghiệp tại địa điểm có nhà hát chỉ đơn giản lấy đi công việc làm ăn của các doanh nghiệp ở các vùng lân cận. Việc mở rộng phân tích sao cho tất cả các doanh nghiệp trong thành phố hay khu vực đều có vị thế sử dụng hầu như không thể tạo ra tác động ròng nào của một tiện ích mới cho dù tác động kinh tế vùng có thể là rất lớn.

2.4 Vị thế Tương đối và Vấn đề Phân phối

Bởi vậy, chúng ta đã chỉ xem xét việc đưa vào hay loại bỏ vị thế sử dụng trong quá trình thảo luận của chúng ta. Những người có vị thế trong một phân tích đều có tầm quan trọng tương đương nhau. Tình huống này nhất quán với các điều kiện Pareto hay Kaldor-Hicks tiềm năng (potential Pareto or Kaldor-Hicks ~KH). Các điều kiện này chỉ rõ rằng một dự án là đáng mong đợi nếu như những người được lợi từ dự án có khả năng dùng khoản lợi mà họ thu được để bồi thường cho những người chịu thiệt hại. Diễn đạt một cách hơi khác đi một chút, điều kiện này có nghĩa là một dự án là đáng để triển khai khi lợi ích lớn hơn chi phí cho dù có phân phối lợi ích và chi phí như thế nào đi chăng nữa.

Đã có nhiều nỗ lực được thực hiện để đưa các cân nhắc phân phối vào trong phân tích lợi ích chi phí. Tuy nhiên, chưa đi đến một cách tiếp cận chung nào. Cách tiếp cận lý tưởng nhất là trong một nghiên cứu, những đối tượng khác nhau sẽ được giao những vị thế ở mức độ khác nhau. Thế nên, khi áp đặt lên người này chứ không phải người khác, các mức chi phí lợi ích có thể là khác nhau. Tầm quan trọng khác nhau tương ứng với mỗi người được gọi là sức nặng phân phối (distributional weigths).

Một trong những lý do thông thường nhất lý giải việc gắn cho mỗi người một vị thế tương ứng khác nhau là phân phối thu nhập. Điều này có nghĩa là lợi ích của một chương trình có thể có ý nghĩa nhiều hơn đối với người nghèo hưởng lợi hơn là người giàu được hưởng lợi. Một chương trình có lợi ích ròng âm có thể là đáng mong đợi nếu như các chi phí bị áp đặt lên người giàu còn lợi ích được tích tụ cho người nghèo. Một chương trình với lợi ích dương có thể không mấy được mong đợi nếu người nghèo phải gánh chịu phần lớn các chi phí trong khi lợi ích thì người giàu lại được hưởng.

Đơn cử một ví dụ. Xét các chương trình chỉ có tác động đến quá trình tái phân phối thu nhập. Bất kỳ một loại chương trình nào cho việc tái phân phối thu nhập đều bao gồm các chi phí. Kết quả là tiền đầu tư cho chương trình lấy từ toàn bộ cộng đồng dân cư nói chung sẽ lớn hơn những gì cuối cùng được phân phối cho những người hưởng lợi từ chương trình. Các chi phí gần như sẽ chắc chắn là lớn hơn các lợi ích. Tuy nhiên, nếu những người góp vốn cho chương trình có thu nhập tương đối cao và người hưởng lợi có thu nhập thấp thì chương trình có thể vẫn đáng được triển khai. Để loại chương trình kiểu này đáng được triển khai hơn thì chúng ta có thể gắn những sức nặng phân phối (distributional weight) cho người nghèo hưởng lợi lớn hơn sức nặng phân phối cho người giàu hưởng lợi.

Có một số cách tiếp cận thực tế điều chỉnh các điều kiện KH bằng cách đưa vào phân tích CBA vấn đề phân phối. Cách tiếp cận đầu tiên, theo ý tưởng của McKean (1958), đưa ra danh sách chi phí lợi ích của các nhóm hưởng lợi có khả năng phải gánh chịu hay thụ hưởng nhiều nhất. Trong trường hợp này, nhà phân tích không cần phải quyết định xem sức nặng phân phối cho mỗi người khác nhau ở mức độ nào mà để độc giả tự quyết định. Ví dụ như nếu các loại thuế xăng dầu liên bang tăng nhằm giảm lượng xăng dầu tiêu thụ và cải thiện chất lượng không khí thì gánh nặng của việc tăng thuế sẽ rơi vào các cư dân nông thôn, những người phải đi các quãng đường khá xa trong khi lợi ích lại rơi vào tay những cư dân thành thị, những người nhìn chung phải nếm trải chất lượng ngày càng tồi đi của bầu không khí. Một nhà phân tích chuẩn bị một báo cáo về triển vọng tăng thuế xăng dầu có thể đơn giản chỉ ra điều này mà không cần phải gắn sức nặng tương ứng cho cư dân nông thôn hay cư dân thành thị. Việc làm thế nào để xác định sức nặng của mỗi nhóm trong việc đánh giá dự án có thể được dành cho độc giả của báo cáo.

Một kỹ thuật thứ hai có thể được dùng là gắn những sức nặng rõ ràng cho các nhóm khác nhau chịu tác động của dự án. Có thể tính toán được cái được và cái mất của mỗi nhóm. Sau khi nhân với sức nặng phân phối của mỗi nhóm, chúng sẽ được cộng lại với nhau để có được lợi ích ròng gia quyền (weighted net benefit). Xét ví dụ về một dự án sẽ buộc cư dân vùng lân cận A phải gánh chịu chi phí ròng trong khi đem lại lợi ích ròng cho cư dân vùng lân cận B. Ví dụ này được thể hiện tại bảng 2-1. Vì cư dân của vùng A giàu có hơn cư dân vùng B nên có sức nặng phân phối ít hơn.[2]

Bảng 2-1

Vùng lân cận Lợi ích ròng

Sức nặng Phân phối 1

Lợi ích ròng Gia quyền Sức nặng Phân phối 2 Lợi ích ròng Gia quyền
A

-100

1

-100

1

-100

B

+80

1.2

+96

1.4

+112

-20

-4

+12

Dưới điều kiện Kaldor-Hicks, dự án là không được mong muốn vì lợi ích ròng của dự án mang giá trị âm. Tăng sức nặng tương đối gắn cho mỗi cư dân của vùng lân cận B lên 20%, lợi ích ròng của dự án vẫn mang giá trị âm. Song nếu tăng lên 40% thì lợi ích ròng của dự án sẽ mang giá trị dương. Khó khăn đầu tiên gặp phải trong quá trình đánh giá sức nặng phân phối hiện (explicit distributional weigths) là quyết định xem chi phí và lợi ích sẽ được phân bổ như thế nào giữa các bộ phận dân cư khác nhau. Sau đó chọn lọc ra một sức nặng phân phối được thoả thuận.

Ví dụ: Sức nặng Phân phối tại OMB

Chúng ta có thể có được một ví dụ tuyệt vời của việc vận dụng sức nặng phân phối và khó khăn chúng tạo ra trong cuốn sổ tay hướng dẫn của Văn phòng Quản lý và Ngân sách (OMB) liên quan đến giá trị tương đối của người già và thanh niên. Họ là những người có thể được cứu sống nhờ chất lượng không khí được cải thiện.[3] Cuộc sống của một số người già được định giá thấp hơn cuộc sống của các thanh niên. Điều này thực ra là kết quả của một phân tích cơ bản về số năm tuồi thọ được cứu sống. Song kết quả thu được giống như khi gán cho các sức nặng phân phối khác nhau. Một lợi ích (một người được cứu sống) đem lại cho một thành viên của một nhóm có giá trị tương đối khác biệt so với cùng một lợi ích đó nhưng đối với thành viên của một nhóm khác.

Có hai tác động quan trọng cần lưu ý đến. Tác động đầu tiên là nếu hai chương trình cứu thoát được số người bằng nhau với cùng một chi phí thì chương trình đã cứu thoát một lượng thanh niên nhiều hơn sẽ được ưa thích hơn. Tác động thứ hai, và có lẽ là tác động quan trọng hơn là việc gán sức nặng phân phối rõ ràng cho mỗi người có thể là một vấn đề gây rất nhiều tranh cãi.

Một kỹ thuật thứ ba loại trừ ít nhất một vài khó khăn của việc gán sức nặng phân phối cho mỗi một đối tượng. Nếu chi phí lợi ích có thể chia sẻ được giữa hai nhóm, nếu có thể tính toán được lợi ích ròng của mỗi nhóm thì có thể tính được sức nặng nột tại (internal weigth) của dự án.[4] Sức nặng nội tại là sức nặng phân phối gán cho một nhóm phải chịu nhiều thiệt thòi hơn để khiến cho lợi ích ròng gia quyền của dự án bằng 0. Bạn đọc sau đó có thể tự do quyết định xem việc gán sức nặng là hợp lý hay phi lý. Trong ví dụ trên, sức nặng nội tại được tính như sau:

Nếu như người đọc cho rằng đó là một phân bổ sức nặng tương đối hợp lý thì dự án là đáng được mong đợi. Nếu bạn đọc cảm thấy rằng cách tính này gán quá nhiều sức nặng cho cư dân vùng lân cận B thì theo ý kiến của người đọc nên phản đối việc triển khai dự án.

Không có một cách tiếp cận nào trong những cách tiếp cận này là thoả đáng hoàn toàn vì người ta vẫn chưa nhất trí được với nhau xem thế nào là sức nặng. Thật ra, vẫn có thể triển khai một dự án mà lợi ích ròng tính được mang giá trị âm bằng cách bổ sung thêm chuyển giao thu nhập từ người giàu sang người nghèo. Cho đến lúc nào sức nặng phân phối lớn hơn được chuyển giao cho người nghèo và biến nó thành một dự án tốt. Cách tiếp cận này có thể bị phản đối bằng lập luận cho rằng thực ra tiến hành dự án có thể là một phương thức chuyển tiền không hiệu quả. Để lý giải cho điều này, Harberger đã đưa ra giả thuyết rằng không được đưa ra sức nặng phân phối nào lớn hơn sức nặng xác định bởi phương pháp chuyển tiền trực tiếp ít tốn kém nhất. Đây là cách tiếp cận tốt hơn.

Dựa vào cách tiếp cận của Harberger có thể vận dụng một cách tiếp cận khác. Trong cách tiếp cận này tình cảm đối với người khác cũng được đo lường bằng các mức giá trị giống như các loại hàng hoá khác. Một phương pháp chung duy nhất của việc gắn các sức nặng là xác định giá trị của một số người theo độ sẵn sàng chi trả cho người khác để có được phúc lợi xã hội cho mình. Cách tiếp cận này là nhất quán với việc chuẩn bị cho phân tích chi phí cơ hội ban đầu. Thế nên, tình cảm đạo đức đối với người khác cũng có vị thế. Cách tiếp cận này được gọi là phép đo tổng thể (aggregate measure) hay AM. Một cách tiếp cận như vậy cũng góp phần giải quyết một số vấn đề lợi ích chi phí.

2.5 Vị thế, sức nặng phân phối và các thế hệ con cháu

Có một vấn đề liên quan đến vị thế đầy thách thức. Đó là vấn đề chi phí lợi ích cho thế hệ sau này mà một dự án có tác động lâu dài mang lại. Biện pháp khấu trừ liên thời gian chuẩn mà ta đã bàn tới đâu đó trong bài khoá này có xu hướng khấu trừ phần lớn chi phí lợi ích mãi sau này mới phát sinh.[5] Kết quả của việc khấu trừ kiểu này là nhất thiết phải từ chối vị thế cho các thế hệ tiếp nối chỉ vì họ không có diễm phúc được ra đời sớm hơn. Đối với các chương trình mà các thế hệ sau này phải gánh chịu phí thì ngay cả khi các chương trình này có phần dành cho chuyển nhượng bù đắp thì rất ít các thể chế tài chính (thậm chí là các thể chế chính quyền) có được sự hiện hữu đáng tin cậy kéo dài hàng thế kỷ. Thế nên, chi phí chuyển tiền trực tiếp mà các thế hệ sau này chịu tác động tiêu cực của chương trình sẽ là cao ở mức không thể chấp nhận được.


Ví dụ: Chất thải Hạt nhân

Một dự án hạt nhân đang tính đến chuyện tạo ra được một khoản lời trị giá $65 tỷ đô với chi phí vào khoảng $35 tỷ đô. Song ngoài ra, dự án cũng sản xuất ra một quả bom độc hại hẹn giờ sẽ gây ra chi phí môi trường khổng lồ vào một thời điểm nào đó trong tương lai.[6] (Tôi bỏ qua các vấn đề tính không chắc chắn của tỷ lệ khấu trừ trong ví dụ này). Giả định rằng công nghệ phân huỷ chất thải hiện tại có khả năng chứa chất thải này trong vòng 500 năm. Sau khoảng thời gian này, chất thải hạt nhân thoát ra ngoài bình chứa song tính độc hại của nó còn tồn tại trong vòng 10,000 năm nữa. Chi phí thiệt hại gây ra cho môi trường sau 2000 năm ước tính khoảng $32,000 tỷ đô, gấp hai lần GDP nước Mỹ hiện tại. Giá trị hiện tại của những thiệt hại này được khấu trừ với tỷ suất sở thích theo thời gian của xã hội (SRTP) 3 % giả định rằng chất thải hạt nhân bắt đầu rò rỉ vào khoảng thời gian 500 năm sau và gây ra thiệt hại vào khoảng $12 triệu. Khoản tiền này không phải là không quan trọng song nó ít hơn rất nhiều so với khoản thiệt hại gây ra sau 500 năm và nhỏ hơn rất rất nhiều so với mức để có thể tác động đến phân tích chi phí lợi ích. Sau khi khấu trừ những thiệt hại đó kết quả thu được là nên tiếp tục tiến hành dự án vì lợi ích được xác định vượt chi phí khoảng $30 tỷ.

Người ta nói rằng dự án chất thải hạt nhân sẽ là không công bằng đối với các thế hệ sau này. Trên cơ sở đó, người ta lập luận rằng việc vận dụng các tỷ lệ khấu hao là trái đạo đức. Một giải pháp thường được đề xuất để giải quyết vấn đề thiệt hại phi đạo đức cho các thế hệ sau này là việc sử dụng các tỷ lệ khấu hao thấp hay thậm chí là âm (tức là Schultze et al. 1981) hay không sử dụng tỷ lệ khấu hao (Parfit, 1994). Kiểu lập luận này là lời biện minh đạo đức cho những gì mà tình cảm của chúng ta nên có đối với các thế hệ con cháu chúng ta. Song đây không phải là một lời tuyên bố có hiệu quả về việc nên sử dụng tỷ lệ chiết khấu nào, có nên sử dụng hay không hay thậm chí là về những tình cảm đạo đức thích hợp. Giải pháp được đề xuất của việc vận dụng tỷ lệ chiết khấu thấp hay không sử dụng tỷ lệ chiết khấu là tạm thời. Nếu được áp dụng một cách chung chung sẽ dẫn đến các vấn đề đạo đức khác. Ví dụ như việc áp dụng các dự án đem lại lợi ích ít hơn cho cả các thế hệ hiện tại và tương lai.[7]

Trong Bảng 2-2, một cách tiếp cận chi phí lợi ích KH chuẩn cho ví dụ chất thải hạt nhân giả định được so sánh với AM trong bốn kịch bản khác nhau: kịch bản 1, có cả bù đắp và giảm nhẹ; kịch bản 2, có bù đắp; kịch bản 3, có giảm nhẹ vì chi phí hành chính của bù đắp là quá lớn; và cuối cùng là kịch bản 4, không có bù đắp mà cũng không có giảm nhẹ. Bù đắp được quyết định bởi thế hệ hiện tại vì thiệt hại gây ra do thế hệ tương lai là $7 tỷ và chi phí cho giảm nhẹ là $4 tỷ. Một ví dụ của giảm nhẹ có thể là tạo ra một vật chứa chất thải hạt nhân an toàn hơn hoặc chuyển chất thải đó vào vũ trụ. Các kết quả được thể hiện bởi giá trị hiện tại ròng, NPV.

Bảng III. So sánh giữa KH và AM *, Các Giá trị Hiện tại của Được và Mất

CHI PHÍ VÀ LỢI ÍCH

[1]

[2]

[3]

[4]

Không có bù đắp hay Giảm nhẹ

(PV Hàng tỷ)

Có bù đắp

(PV Hàng tỷ)

Có giảm nhẹ tác động

Bù đắp là không khả thi

(PV Hàng tỷ)

Cả bù đắp và Giảm nhẹ tác động đều không khả thi

(PV Hàng tỷ)

Lợi ích Thường

65

65

65

65

Chi phí Thường

35

35

35

35

Thiệt hại các Thế hệ sau này phải Gánh chịu

0.012

0.012

[0.012]

0.012

Chi phí Hành chính của Bù đắp Thực tế

[4]

7

infinite

infinite

Chi phí Giảm nhẹ

[5]

[5]

4

100

Thiệt hại Tinh thần đối với Thế hệ Đương đại

35

[35]

[35]

35

KH NPV

29.988

22.988

26

29.988

AM NPV

-5.012

22.988

26

-5.012

Kết luận

Cả bù đắp và giảm nhẹ đều có vẻ không đáng giá trong điều kiện KH vì thiệt hại về tinh thần bị bỏ qua

Bù đắp loại bỏ thiệt hại tinh thần

Giảm nhẹ loại bỏ thiệt hại tinh thần

Thiệt hại tinh thần khiến cho dự án là không được mong đợi trong điều kiện AM

* Những giá trị trong ngoặc là các chi phí không được tính đến trong bối cảnh cho trước. Lưu ý rằng không phải tất cả các số đều thích hợp với KH. Cũng lưu ý rằng việc giảm bớt hay bù đắp là hai thứ dùng để thay thế lẫn nhau nên không thể đưa cả hai vào trong một tính toán AM.[8]

Giá trị NPV $30 tỷ cho KH xảy ra khi không có giảm nhẹ cũng như không có bù đắp. Giảm nhẹ bị bỏ qua chừng nào giá trị của nó còn ít hơn giá trị hiện tại của thiệt hại tương lai gây ra bởi việc không giảm nhẹ được. Vì đây là trường hợp mà các kịch bản có giảm nhẹ không đạt tiêu chuẩn KH. Bù đắp bị bỏ qua vì nó là tác động phân phối không được KH tính tới. Kiểm tra KH xét đến bù đắp trên lý thuyết hơn là bù đắp thực tế. Ngầm ẩn trong kiểm tra lý thuyết là giả định cho rằng lượng bù đắp lý thuyết chỉ đơn giản là giá trị hiện tại của thiệt hại trong tương lai bởi nếu đầu tư khoản tiền như vậy với tỷ lệ lãi suất giả định thì khoản tiền đó sẽ sinh sôi thành một khoản bằng với thiệt hại trong tương lai. Bù đắp lý thuyết xác định xem liệu những người được lợi về nguyên tắc có thể bù đắp cho những người bị thiệt hay không bỏ qua chi phí của việc đền bù. thực tế. Tuy nhiên, nếu đền bù thực ra được cung cấp thì khoản tiền cần có sẽ lớn hơn khoản tiền này và trong nhiều trường hợp còn lớn hơn rất nhiều. Các chi phí hành chính của việc cung cấp đền bù có thể là tương đối lớn về mặt dài hạn, thậm chí là vô hạn như thể hiện trong Kịch bản 4. Khả năng cung cấp một cách liên tục những thể chế tồn tại lâu đời yêu cầu với hầu như bất kể một mức chi phí nào đã được chứng tỏ là không thể (Leshine và McCurdy, 2003).

Cách tiếp cận AM tính đến độ sẵn sàng chi trả cho thế hệ hiện tại để giảm thiệt hại cho thế hệ tương lai. Giá trị NPV cho kịch bản không có cả giảm nhẹ hay bù đắp mang giá trị âm. Giá trị NPV khi cả giảm nhẹ và bù đắp đều không được lựa chọn tính được là âm 5.012 tỷ trong điều kiện AM thay vì gần dương 30 tỷ trong điều kiện KH. Sở dĩ có kết quả này là bởi AM yêu cầu tính đến các tình cảm đạo đức trong khi KH thì không. Khi xảy ra bù đắp hay giảm nhẹ thì thiệt hại đạo đức bị loại trừ và các giá trị thu được trong KH và AM là giống nhau vì các giá trị trước đây bị thiếu nay đã được tính đến. Cách tiếp cận AM cho thấy rằng hình thức giảm nhẹ và bù đắp ít tốn kém hơn được mong đợi chừng nào chúng còn ít hơn thiệt hại đạo đức gây ra cho thế hệ hiện tại. Khi cả giảm nhẹ và bù đắp đều là không khả thi thì dự án bị từ chối theo AM chứ không phải theo KH vì tính cả thiệt hại đạo đức cho ta một giá trị NPV âm.

Cách tiếp cận AM là ưu việt hơn vì nó cho ta một hệ thống kế toán đầy đủ hơn, xác thực hơn. Trong AM chúng ta có thể trao vị thế cho các tình cảm đạo đức đối với các thế hệ sau này. AM cho phép chúng ta so sánh chuẩn xác giữa kịch bản đền bù, giảm nhẹ với kịch bản không làm gì. AM giúp ta tránh được những dự án có vẻ như đáng giá song lại có mức thiệt hại đạo đức lớn hơn giá trị dự án mang lại. AM cho phép có được một giải pháp cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức gặp phải khi lựa chọn mức lãi suất phù hợp. Đó là tình thế khi người ta thừa nhận các quan ngại đạo đức là xác đáng và tiến hành tìm kiếm một giải pháp đạo đức song đồng thời cũng công nhận các giá trị tán dương việc sử dụng tỷ lệ chiết khấu.

Tóm tắt

Một trong những quyết định đầu tiên cần đưa ra trong phân tích CBA là ai là đối tượng có vị thế. Quyết định này sẽ tác động đến những tác nhân được tính đến như chi phí và lợi ích hay những tác nhân chỉ được coi là các chuyển nhượng nếu có. Phân tích CBA cần phải chỉ ra rõ ràng là chính xác ai có vị thế. Phân tích CBA cũng cần phải bám vào vị thế đã được chỉ ra một cách nhất quán trong suốt quá trình nghiên cứu.

Người ta có thể mong muốn tiến hành xác định sức nặng phân phối trong nhóm người mà nghiên cứu tính đến vì lý do chính trị, mục tiêu xã hội hay sự phân phối lại về kinh tế. Trong khi cần phải nêu được các lợi ích chi phí chưa được gia quyền thì xác định sức nặng phân phối hay ít nhất là sự phân tách rõ ràng ai phải chịu thiệt, ai được hưởng lợi có thể cải thiện chất lượng của phân tích. Nó cho phép người đọc quyết định xem những tính toán phân phối có thể biến một dự án từ tốt thành xấu và ngược lại hay không.

Một vấn đề đặc biệt khó trong CBA là xử lý lợi ích, chi phí lâu dài ảnh hưởng đến các thế hệ sau này. Việc coi nó như một vấn đề vị thế và áp dụng khái niệm tình cảm đạo đức vào phúc lợi xã hội của thế hệ sau này cho chúng ta một hiểu biết sâu sắc trong việc giải quyết vấn đề này.

Hỏi

1. Bảo hiểm y tế thường không chi trả cho việc tiêm vác-xin phòng các bệnh như cúm hay viêm gan cho dù phân tích chi phí và lợi ích của việc tiêm phòng cho thấy rõ ràng rằng đó là một việc đáng làm.[9] Hãy giải thích tại sao vị thế có thể có một ý nghĩa nào đó trong việc khiến cho các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm y tế đi đến quyết định không chi trả cho những loại tiêm chủng này.

2. Một dự án có tác động đối với hai nhóm người. Nhóm B có ưu thế chính trị và đã dùng ưu thế này để làm luật sao cho các phân tích chi phí lợi ích của dự án có ảnh hưởng đến họ phải gắn cho họ một sức nặng phân phối lớn hơn sức nặng phân phối gắn cho mọi người dân bình thường khác là 20%. Hãy đánh giá dự án này dựa trên điều kiện tiềm năng Pareto hay Kaldor-Hicks và sức nặng phân phối bắt buộc đó. Một sức nặng nội tại phải là bao nhiêu để có thể đem lại cho dự án một lợi ích ròng bằng 0?

Nhóm Tổng Lợi ích Ròng
A -$300Triệu
B +$280Triệu

3. Một nhà chức trách sân bay địa phương đã quyết định xây thêm một đường băng. Việc xây dựng đòi hỏi phải có một lượng lớn các thanh chịu lực bằng thép giúp tăng độ vững chắc cho đường băng. Một công ty thép trong nước đã đưa ra báo giá cho sản phẩm này cao hơn so với mức một công ty nước ngoài đưa ra. Tuy nhiên, chính phủ liên bang lại áp đặt một loại thuế đối với thép nhập khẩu. Loại thuế này khiến cho sản phẩm thanh thép do công ty nước ngoài cung cấp trở nên đắt đỏ hơn. Hãy giải thích xem vấn đề vị thế tác động như thế nào đến quyết định được đưa ra trong trường hợp này.

Đáp

1. Một công ty bảo hiểm có nhiều khả năng sẽ quyết định chi trả cho việc tiêm chủng dựa trên chi phí khám chữa bệnh trong trường hợp một cá nhân phải trả trong trường hợp nhiễm bệnh do không được tiêm chủng. Đối với công ty bảo hiểm, chi cho tiêm chủng chỉ đơn thuần là để tránh phải chi cho hoá đơn khám chữa bệnh. Tuy nhiên, đối với mỗi cá nhân có nhiều lợi ích phụ và có thể là lớn hơn từ việc được tiêm chủng để tránh không bị nhiễm bệnh. Ngoài việc phải trả tiền chữa trị, mắc bệnh còn dẫn đến tình trạng đau đớn, khó chịu. Mắc bệnh cũng đồng nghĩa với việc phải nghỉ làm. Nếu nhìn từ góc độ công ty bảo hiểm thì những mất mát này không được tính đến. Tuy nhiên, một cá nhân khi đưa ra quyết định về việc tiêm chủng sẽ phải tính đến những yếu tố này.

Thật thú vị, nếu chi phí chữa trị được phân chia một cách đầy đủ (công ty bảo hiểm trả tất cả các hoá đơn chữa bệnh trong khi người mua bảo hiểm chịu tất cả những chi phí phi tiền) thì kết cục có thể là cả công ty và cá nhân mua bảo hiểm đều không thấy tiêm chủng là một việc đáng làm. Họ cảm thấy như vậy ngay cả khi tiêm chủng thực sự là một việc đáng làm khi gộp các chi phí mà hai bên phải bỏ ra trong trường hợp cá nhân đó bị mắc bệnh.

2. Để đánh giá dự án trong điều kiện tiềm năng Pareto hay Kaldor-Hicks, thêm vào lợi ích ròng liên quan đến cả hai nhóm để có được con số -$20Triệu. Trong điều kiện này, dự án là không được mong muốn.

Để đánh giá dự án dưới một hệ thống sức nặng phân phối bắt buộc, gán sức nặng 1.0 cho nhóm A và 1.2 cho nhóm B. Kết quả ta thu được lợi ích ròng gia quyền của nhóm B là $336Triệu. Vì lợi ích này lớn hơn chi phí nhóm A phải chịu nên đự án là đáng được triển khai trong hệ thống sức nặng phân phối bắt buộc. Có thể gán cho nhóm A bất kể một sức nặng nào miễn là nó nhỏ hơn sức nặng gán cho nhóm B 20%.

Cuối cùng, sức nặng nội tại tạo ra lợi ích ròng bằng 0 được tính như sau

Thế nên bất kỳ một hệ thống nào gán một sức nặng cho nhóm B lớn hơn sức nặng gán cho nhóm A là 7.1% sẽ biến dự án thành một dự án đáng được triển khai.

3. Vấn đề ở đây là liệu chính quyền liên bang (hay những người trả thuế trong bang) có vị thế hay không. Nếu chính quyền liên bang có vị thế thì thuế trả cho thép nhập khẩu không phải là lợi ích hay chi phí mà chỉ đơn giản là một khoản chuyển nhượng. Trong trường hợp này, thép nhập ngoại vẫn rẻ hơn. Nên mua thép nhập ngoại. Trường hợp có nhiều khả năng xảy ra hơn là quyết định mua thép được đưa ra theo quan điểm của các quan chức sân bay mà không tính đến chính quyền liên bang hay người nộp thuế trong bang. Trong trường hợp này thì thuế chính là một chi phí cho việc mua thép nhập ngoại và quyết định có khả năng được đưa ra là mua thép nhập ngoại. Thật mỉa mai khi trao vị thế sử dụng cho chính quyền liên bang thì quyết định được đưa ra lại là mua thép nhập ngoại.


[1] Chi phí lao động đúng ra phải được coi là chi phí cơ hội. Khái niệm này sẽ được xem xét sau trong cuốn sách này.
[2]Đương nhiên, các cư dân vùng A có thể có sức nặng phân phối bị giảm đi do hàng loạt các lý do khác nhau. Bạn đọc có thể tự xác định các lý do này bằng trí tưởng tượng của riêng mình.
[3] "Phẫn nộ xung quanh việc gán cho cuộc sống của những người già giá trị thấp hơn" Thời báo Los Angeles, 30 tháng 4 năm 2003.
[4] Kỹ thuật này được đề xuất ở Boardman et al, tr. 467.
[5]Ví dụ như $1 khấu trừ với mức lãi suất thấp 1% chỉ có giá trị hiện tại là $0.007 sau 500 năm.
[6] Vấn đề kiểu này xuất hiện với các trường hợp như Xăng dầu $ Điện Baltimore đối chiếu với Uỷ ban Bảo vệ Tài nguyên Thiên nhiên, Inc. 462 U.S. 87, (1983); và Công ty Xăng dầu và Điện Châu Á Thái Bình Dương et al. đối chiếu với Uỷ ban Bảo tồn và Phát triển Nguồn Năng lượng Quốc gia, 461 U.S. 190, (1991). Xem 123 U. S. 45 (1999).
[7] Infra, chú thích 3.
[8]Những chỉ trích phân tích lợi ích-chi phí gợi ý rằng các giá trị mà các cá nhân có với tư cách là cá nhân đơn lẻ được sử dụng trong phân tích chi phí-lợi ích. Song nó khác vớ những giá trị mà họ có khi đưa ra các quyết định công (Anderson, 1993; Sagoff, 1988). Tuy nhiên, chỉ trích này có ý nghĩa làm cho việc đo đạc giá trị thật được tiến hành một cách cẩn trọng hơn là phương pháp phân tích lợi ích-chi phí (Zerbe, 2001).
[9]Một ví dụ tuyệt vời của một nghiên cứu trình bày phân tích kiểu đó là "Mauskopf, J.A., C.J. Bradley và M.J. French, "Phân tích Chi phí-Lợi ích của Chương trình Tiêm chủng Phòng Viêm gan B cho các Công nhân có Nguy cơ bị Nhiễm bệnh vì đặc thù của Nghề nghiệp," Tạp chí Chuyên ngành Y học, 33, số 6 (1991), 691-698.

Bài này xuất xứ từ Trang Kinh Tế
http://www.kinhtehoc.com/